CMS modules by everest poker.
Print

Hỏi: Tôi được nhận vào làm việc trong một khu công nghiệp tại TP. HCM nhưng không được ký hợp đồng với lý do không có hộ khẩu tại TP. HCM. Như vậy có đúng không? Nếu không được ký kết hợp đồng lao động thì có bị ảnh hưởng gì không?

Trả lời:

Việc ký hợp đồng lao động bằng văn bản hay thỏa thuận bằng miệng là tùy thuộc vào thời hạn hợp đồng lao động mà anh/chị giao kết với công ty chứ không phụ thuộc vào vấn đề hộ khẩu. Nếu hợp đồng của anh/chị có thời hạn từ 03 tháng trở lên hoặc không xác định thời hạn thì phải ký bằng văn bản và được làm thành 02 bản, anh/chị giữ 01 bản, công ty giữ 01 bản. Nếu anh/chị được giao kết hợp đồng để làm công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng thì có thể thỏa thuận miệng.

Khi ký bằng văn bản, anh/chị được quyền giữ 01 bản nên đây là bằng chứng để anh/chị dễ dàng bảo vệ được quyền lợi của mình. Ví dụ: Khi công ty không bố trí đúng công việc, không trả lương đầy đủ, không đóng bảo hiểm... thì bản hợp đồng lao động là căn cứ để anh/chị yêu cầu công ty thực hiện đúng hợp đồng.

 

Hỏi: Trong trường hợp không may bị tai nạn lao động thì có được hưởng chế độ gì không?

Trả lời:

Trước hết, nếu có tham gia bảo hiểm y tế thì sẽ được được người sử dụng lao động và bảo hiểm y tế chi trả toàn bộ chi phí chữa bệnh; nếu  không tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động sẽ phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định. Đồng thời, người sử dụng lao động phải trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động trong thời gian  nghỉ việc để điều trị.

Sau khi điều trị ổn định thương tật, nếu bị suy giảm từ 5% khả năng lao động trở lên thì còn được hưởng các chế độ sau:

- Chế độ trợ cấp hoặc bồi thường của nười sử dụng lao động: Nếu tai nạn xảy ra không phải do lỗi của, công ty phải bồi thường ít nhất 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng (nếu suy giảm từ 11% đến 80%). Nếu suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì công ty phải bồi thường ít nhất 30 tháng tiền lương. Trường hợp tai nạn xảy ra do lỗi của thì công ty chỉ phải trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức bồi thường ở trên.

- Trợ cấp bảo hiểm xã hội: Nếu có đóng bảo hiểm xã hội thì được nhận chế độ tai nạn lao động. Trường hợp thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (hợp đồng từ 03 tháng trở lên) mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động sẽ phải trả cho khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động.

 

Hỏi: Khi vào làm việc tại công ty, tôi có thể được ký các loại hợp đồng lao động nào? Khi nào được ký bằng văn bản?

Trả lời:

Thứ nhất, về loại hợp đồng lao động. Khi vào làm việc tại công ty, anh/chị được giao kết một trong ba loại Hợp đồng lao động sau đây:

- Loại 1: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

- Loại 2: Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;

- Loại 3: Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Lưu ý:

- Không được giao kết hợp đồng lao động loại 3 để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

- Nếu giao kết hợp đồng loại 2 và 3 thì khi các hợp đồng này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới. Nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng loại 2 sẽ trở thành hợp đồng lao động loại 1 và hợp đồng loại 3 sẽ trở thành hợp đồng loại 2 với thời hạn là 24 tháng.

Khi hợp đồng loại 2 và 3 hết hạn thì hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới trong thời hạn 30 ngày. Nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng loại 2 thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần (sau khi ký lần đầu), sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động loại 1.

Trong trường hợp ký hợp đồng loại 2 và 3 thì cũng chỉ được ký 02 lần, sau đó phải ký hợp đồng loại 1. Do đó, tùy vào tính chất công việc và thiện chí của nhà tuyển dụng mà anh (chị) sẽ được ký 1 trong 3 loại hợp đồng trên. Tuy nhiên, thông thường nếu đó không phải là công việc theo thời vụ thì anh (chị) sẽ được ký loại hợp đồng thứ 2 trước, sau đó sẽ chuyển sang hợp đồng loại 1 như đã phân tích ở trên.

Thứ hai, về hình thức hợp đồng. Theo quy định tại Điều 16 BLLĐ, nếu giao kết hợp đồng có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên thì phải ký bằng hình thức văn bản, mỗi bên giữ một bản; đối với hợp đồng có thời hạn dưới 3 tháng thì các bên có thể giao kết bằng miệng.

 

Hỏi: Tôi đang làm việc cho một công ty được hai năm. Trước đây tôi có làm việc cho một số công ty khác, tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội của tôi đến nay là 7 năm. Khoảng 2 tháng nữa tôi sẽ sinh con. Hỏi: Tôi sẽ được hưởng chế độ nghỉ thai sản như thế nào khi sinh con?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 157 BLLĐ, tổng thời gian lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng, trong đó thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng. Trường hợp sinh đôi trở lên thì cứ sinh thêm mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Theo quy định tại Điều 34, 35 Luật Bảo hiểm xã hội, trong thời gian nghỉ thai sản nói trên, người lao động được hưởng chế độ thai sản bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ sinh. Ngoài ra, người lao động còn được trợ cấp một lần khi sinh con với mức bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

Theo qui định tại khoản 3, 4, 5 Điều 157 BLLĐ, khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thỏa thuận với người sử dụng lao động.

Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng, cần có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động (nếu người sử dụng lao động yêu cầu) và được người sử dụng lao động đồng ý. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

 

Hỏi: Người lao động khi làm thêm giờ hoặc làm việc vào ban đêm thì tính tiền lương như thế nào?

Trả lời:

Theo qui định tại Điều 97 BLLĐ, việc làm thêm giờ được tính theo các cách thức cụ thể sau đây:

- Thứ nhất, người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

+ Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

+ Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

+ Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương (khác với các ngày nghĩ không hưởng lương như xin nghĩ không lương để chữa bệnh…), thì mức hưởng ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương (nếu người lao động không đi làm) đối với người lao động hưởng lương tính theo ngày.

- Thứ hai, người lao động làm việc vào ban đêm (tức là từ 22 giờ đến 6 giờ sáng), thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

- Thứ ba, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo cách tính nêu tại trường hợp một và trường hợp hai ở trên thì người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Ví dụ về trường hợp làm thêm vào ngày thường:

Ví dụ 1: A hưởng lương thời gian, tiền lương tính theo giờ của ngày làm việc bình thường là 20.000 đồng/giờ thì tiền lương làm thêm giờ vào ngày thường là 20.000 đồng x 150% = 30.000 đồng/1 giờ.

Nếu A làm vào ban đêm thì được trả lương là: 20.000 đồng x 130% = 26.000 đồng/1 giờ

Nếu A làm thêm giờ vào ban đêm ngày thường thì tiền lương làm thêm giờ của A là: 20.000 đồng x 150% x 130% + 20.000 đồng x 20% = 43.000 đồng/1 giờ

Ví dụ 2: B hưởng lương sản phẩm. Đơn giá sản phẩm làm trong giờ bình thường là 10.000 đồng/sản phẩm thì đơn giá của sản phẩm làm ra trong thời gian tăng ca được tính là 10.000 đồng x 150% = 15.000 đồng/1 sản phẩm.

Nếu B làm việc vào ban đêm thì đơn giá sản phẩm được trả là: 10.000 đồng x 130% = 13.000 đồng/1 sản phẩm.

Nếu B làm thêm vào ban đêm ngày thường thì đơn giá sản phẩm làm ra trong thời gian tăng ca là: 10.000 đồng x 150% x 130% + 10.000 đồng x 20% = 21.500 đồng/1 sản phẩm.


Copyright © 2013 TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ ĐÀO TẠO NGẮN HẠN. All rights reserved. 

Địa chỉ: 02-04 Nguyễn Tất Thành, P. 12, Q. 4, TP. Hồ Chí Minh
Wednesday the 20th.