CMS modules by everest poker.
Print

Hỏi: Tôi là công nhân, đang tạm trú tại TP. HCM, không có người thân thích, tôi muốn đăng ký hộ khẩu thường trú tại đây thì phải làm như thế nào?

Trả lời:

Về điều kiện đăng ký hộ khẩu thường trú:

Nếu anh/chị không có người thân hiện đang có hộ khẩu thường trú tại TP. HCM thì việc đăng ký hộ khẩu thường trú được thực hiện như sau:

- Căn cứ Điều 20 Luật Cư trú (được sửa đổi, bổ sung năm 2013 – sau đây gọi là Luật Cư trú), Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật cư trú thì anh/chị phải có các điều kiện sau:

+ Thứ nhất, phải có chỗ ở hợp pháp: đó là nơi ở thuộc quyền sở hữu của anh/chị hoặc anh/chị có quyền sử dụng hoặc anh/chị được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chỗ ở hợp pháp phải bảo đảm diện tích sàn tối thiểu là 5m2/người. UBND xã, phường, thị trấn là cơ quan xác nhận về diện tích sàn tối thiểu. Nếu anh/chị ở nhà thuê, mượn, ở nhờ thì phải được chủ nhà (người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ) đồng ý bằng văn bản. Trường hợp không có sự đồng ý của chủ hộ thì anh/chị phải có hợp đồng cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở và hợp đồng phải được công chứng, chứng thực theo quy định, trong hợp đồng phải ghi rõ diện tích cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ.

+ Thứ hai, phải có đủ thời gian tạm trú theo quy định: nếu đăng ký thường trú vào huyện thuộc TP. HCM thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố từ 1 năm trở lên, nếu đăng ký thường trú vào các quận thuộc thành phố thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố từ 2 năm trở lên. Lưu ý nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú. Thời gian tạm trú thì được cộng dồn nếu tạm trú tại nhiều nơi khác nhau trong thành phố đó

Về thủ tục đăng ký:

Căn cứ theo Điều 21 của Luật Cư trú và Thông tư 52/2010/TT-BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú, Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 và Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 về cư trú thì anh/chị cần thực hiện như sau:

- Thứ nhất, chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ theo quy định pháp luật, bao gồm:

1. Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu (theo mẫu tại Công an xã, phường, thị trấn);

2. Giấy chuyển hộ khẩu (đối với các trường hợp phải cấp giấy chuyển hộ khẩu);

3. Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp (như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất, Quyết định phân nhà, Hợp đồng mua bán nhà với nhà nước, Giấy phép xây dựng…..); hợp đồng thuê nhà, mượn nhà, văn bản đồng ý cho ở nhờ nếu thuộc trường hợp ở nhà thuê, mượn, ở nhờ;

4. Đối với trường hợp thuê, mượn, ở nhờ chỗ ở hợp pháp, thì khi đăng ký tạm trú phải có ý kiến đồng ý cho đăng ký tạm trú của người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm.

- Thứ hai, đến cơ quan Công an quận, huyện nộp hồ sơ.

Hỏi: Tôi muốn xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng đã cư trú tại nhiều nơi khác nhau.

Trả lời:

Căn cứ điểm d Khoản 2 Mục II Thông tư 01/2008/TT-BTP ngày 02/06/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP:

Anh/chị nếu đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài) mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của anh/chị ở những nơi đó thì giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được thay bằng Giấy cam đoan của anh/chị về tình trạng hôn nhân của mình trước đó. Anh/chị phải chịu trách nhiệm về việc cam đoan của mình trước pháp luật.

Hỏi: Tài sản được chia như thế nào khi ly hôn?

Trả lời:

Pháp luật ưu tiên 2 bên thoả thuận về việc chia tài sản khi ly hôn. Nếu không thoả thuận được thì sẽ giải quyết việc phân chia tài sản dựa trên những nguyên tắc sau:

- Đối với tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc sở hữu của người đó. Nếu những tài sản riêng nhưng đã sữ dụng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình khi còn là vợ chồng (ví dụ quyền sử dụng đất riêng nhưng đã đưa vào sản xuất chung, xe máy riêng nhưng đã đưa vào dùng chung hoặc làm phương tiện sinh sống chung như chạy xe ôm...) thì sẽ không được xem là tài sản riêng và lấy lại như tài sản riêng.

- Đối với tài sản chung thông thường sẽ được chia đôi, tuy nhiên tuỳ theo trường hợp toà án có thể sẽ xem xét đến hoàn cảnh cũng như công sức đóng góp của mỗi bên vào khối tài sản chung này (ví dụ: chồng đi làm, vợ ở nhà nội trợ nhưng ham mê bài bạc dẫn đến phá tán tài sản thì không áp dụng nguyên tắc chia đôi mà chia theo công sức đóng góp). Lưu ý rằng công việc nội trợ, chăm lo cho con cái,… cũng được xem là lao động có thu nhập, đóng góp vào tài sản chung.

Tài sản có thể được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị, bên nào nhận được phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lơn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

Hỏi: Vợ chồng chúng tôi có được đăng kí khai sinh cho con ở nơi tạm trú hay không?

Trả lời:

Căn cứ Khoản 1, Mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 2/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP:

Thẩm quyền đăng ký khai sinh được thực hiện tại UBND cấp xã nơi người mẹ thường trú; trường hợp người mẹ không có nơi đăng ký thường trú, việc đăng ký khai sinh cho trẻ em được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi người mẹ đăng ký tạm trú.

Trường hợp người mẹ có nơi đăng ký thường trú, nhưng thực tế đang sinh sống, làm việc ổn định tại nơi đăng ký tạm trú, thì UBND cấp xã, nơi người mẹ đăng ký tạm trú cũng có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em. Trong trường hợp này, UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh có trách nhiệm thông báo cho UBND cấp xã, nơi người mẹ đăng ký thường trú để biết. Cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “Đăng ký khai sinh theo nơi tạm trú của người mẹ”. Trên thực tế, khi thực hiện việc kê khai này, để tránh việc một người được khai sinh 2 lần, UBND nơi tạm trú thường yêu cầu người thực hiện việc khai sinh tại nơi tạm trú phải làm giấy xác nhận là chưa làm khai sinh tại nơi thường trú.

Như vậy, trường hợp anh chị, căn cứ các quy định nêu trên, việc đăng ký khai sinh cho trẻ em được thực hiện tại UBND cấp xã nơi chị đăng ký thường trú. Tuy nhiên, anh, chị cũng có thể lựa chọn việc đăng ký khai sinh cho trẻ tại UBND cấp xã nơi đang sinh sống, làm việc ổn định theo thủ tục hướng dẫn như trên.

Hỏi: Hai con của tôi năm nay đều dưới 6 tuổi. Theo tôi được biết, các cháu sẽ được hưởng chế độ khám bệnh miễn phí tại các bệnh viện công lập. Vậy trong trường hợp các cháu bị ốm, tôi có thể đưa cháu tới bất kỳ bệnh viện nào của Nhà nước hay phải đến đúng tuyến điều trị theo quy định?

Trả lời:

Căn cứ Điều 26, 27, 28 Luật Bảo hiểm y tế, Thông tư liên tịch 09/2009/TTLT-BYT-BTC Bộ Y tế và Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế:

Trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ BHYT và được khám miễn phí tại các bệnh viện đã đăng ký khám chữa bệnh ban đầu được ghi trong thẻ BHYT. Trong trường hợp cơ sở đó không đủ điều kiện khám chữa thì thực hiện chuyển tuyến.

Việc chuyển tuyến điều trị cho trẻ được thực hiện trong trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn kỹ thuật tại cơ sở đăng ký khám chữa bệnh ban đầu. Trường hợp cấp cứu, trẻ có bảo hiểm y tế được khám bệnh, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào và phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế.

Hỏi: Gia đình tôi đang sinh sống và con tôi đang theo học tại TP. HCM nhưng có hộ khẩu thường trú ở tỉnh, thuộc vùng cao vậy cho tôi hỏi con tôi có được miễn, giảm học phí không?

Trả lời:

Con của anh/chị không được miễn, giảm học phí.

Căn cứ theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 – 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 74/2013/NĐ-CP của Chính phủ) thì đối tượng thuộc vùng cao không được miễn, giảm học phí.

Vậy con anh/ chị không thuộc trường hợp được miễn giảm học phí theo quy định của nhà nước.

 


Copyright © 2013 TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ ĐÀO TẠO NGẮN HẠN. All rights reserved. 

Địa chỉ: 02-04 Nguyễn Tất Thành, P. 12, Q. 4, TP. Hồ Chí Minh
Wednesday the 20th.